Cà phê đảo chiều giảm sau khi chạm ngưỡng 90.000 đồng mỗi kg Giá càphê trong nước và thế giới đều đảo chiều giảm, trong khi giá gạo xuất khẩu cũng giảm nhẹ, ảnh hưởng bởi các yếu tố thị trường và thời tiết.
Giá càphê trong nước tuần qua có thời điểm chạm mốc 90.000 đồng/kg nhưng nhanh chóng đảo chiều giảm vào cuối tuần theo diễn biến của thị trường thế giới.
Thông tin chính
Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm nhẹ xuống còn từ 405-415 USD/tấn, trái ngược xu hướng tăng tại Thái Lan và Ấn Độ. Kết thúc tuần qua, giá càphê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 89.000-89.300 đồng/kg, giảm nhẹ 300-400 đồng/kg so với tuần trước. Cụ thể, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 400 đồng/kg, đưa giá thu mua càphê xuống còn 89.000-89.300 đồng/kg.
Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá càphê cùng giảm 300 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 89.200 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá càphê trên cả hai sàn giao dịch quốc tế London và New York đều đảo chiều giảm sâu. Sức ép bán ròng đã đẩy giá hai mặt hàng càphê tiêu chuẩn lao dốc.
Điểm đáng chú ý
- Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm nhẹ xuống còn từ 405-415 USD/tấn, trái ngược xu hướng tăng tại Thái Lan và Ấn Độ.
- Kết thúc tuần qua, giá càphê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 89.000-89.300 đồng/kg, giảm nhẹ 300-400 đồng/kg so với tuần trước.
- Cụ thể, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 400 đồng/kg, đưa giá thu mua càphê xuống còn 89.000-89.300 đồng/kg.
- Tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá càphê cùng giảm 300 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 89.200 đồng/kg.
Bối cảnh
Trên sàn London, giá càphê Robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm mạnh 1,22%, mất 45 USD/tấn so với phiên trước, xuống 3.640 USD/tấn. Trên sàn New York, giá càphê Arabica hợp đồng giao tháng 7/2026 cũng giảm 0,99%, tương đương giảm 2,75 xu/lb xuống 275,10 xu/lb (1 lb=0,4535 kg). Về thị trường lúa gạo, tuần qua, theo cập nhật mới nhất từ Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, giá các loại lúa gạo ít biến động, giao dịch chậm.
Giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện dao động từ 6.200-6.400 đồng/kg; OM 5451 từ 5.650-5.850 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.400-5.500 đồng/kg; OM 34 dao động 5.500-5.700 đồng/kg. Đối với gạo nguyên liệu, IR 50404 xuất khẩu đang dao động từ 8.700-8.800 đồng/kg; CL 555 từ 9.000-9.100 đồng/kg; OM 5451 từ 9.500-9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200-9.400 đồng/kg; Sóc thơm dao động ở mức 7.500-7.600 đồng/kg. Giá gạo thành phẩm IR 50404 hiện ở mức 10.750-10.900 đồng/kg.
Tác động với thị trường
Diễn biến này có thể tác động đến cách các đơn vị theo dõi thị trường số nhìn nhận chi phí, năng lực vận hành, hiệu quả bán hàng và mức độ cạnh tranh trong giai đoạn tới.
Theo VietnamPlus Kinh tế